Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự lớn trong lịch sử, ông còn là tấm gương sáng vô cùng quý báu về việc tin cậy và sử dụng nhân tài của đất nước cho lợi ích quốc gia, và trường hợp Ngô Thì Nhậm trên đây chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện còn được truyền tụng cho đến ngày nay.

Quân Tây Sơn ra Bắc “phò Lê diệt Trịnh” với những chiến công lẫy lừng, khí thế ngất trời, khiến quan tướng Trịnh tan tác, mọi người đều khiếp sợ.

Dẹp xong họ Trịnh, Quang Trung xin được vào yết kiến vua Lê lúc ấy là Lê Hiểu Tông. Triều đình nhà Lê lúc này cả uy thế và lực lượng đều giảm sút tới mức thảm hại, tưởng chừng nếu Quang Trung có ý đồ tiêu diệt thì sẽ bóp nát trong tay. Việc vua Lê tiếp Quang Trung vừa dẹp xong họ Trịnh chưa biết diễn biến ra sao nên cả vua quan nhà Lê tuy phải chấp nhận nhưng hết sức lo ngại. Lễ tiếp đón được tổ chức ngay tại sân rồng trong nỗi hồi hộp của cả triều đình. Khi vị anh hùng chiến thắng Quang Trung Nguyễn Huệ với nhung phục uy nghiêm, bảo kiếm đeo bên mình cùng tướng tá tả hữu đi cùng bước vào trong điện, các tướng tá, quan chức nhà Lê túc trực hai bên đều cúi rạp mình chào cung kính, có người không dám ngẩng lên nhìn. Bỗng viên quan đứng đầu đội quân thị vệ ngang nhiên ra cản bước Quang Trung. Nguyễn Huệ chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì viên quan đã vòng tay, cung kính nói: - Dám thưa tướng quân! Theo phép nước khi lên điện chầu vua, không được phép mang gươm. Xin tướng quân cởi kiếm cho! Bị bất ngờ, Nguyễn Huệ trừng mắt nhìn. Một phút im lặng hãi hùng. Những viên tướng Tây Sơn đi theo Nguyễn Huệ đều bước dấn lên, nhất loạt đưa tay nắm sẵn chuôi gươm, sẵn sàng đợi lệnh. Mọi người xung quanh đều tái mặt, nín thở nghĩ tai họa lớn sẽ xảy ra ngay tức khắc, riêng viên quan thị vệ vẫn đứng yên, điềm nhiên, không hề đổi sắc mặt. Cũng rất bất ngờ, Nguyễn Huệ mỉm cười, lặng lẽ tháo gươm trao cho người hầu cận của mình rồi giơ tay cho tả hữu tùy tùng nhất loạt bỏ khí giới. Lúc ấy viên qua đứng đầu đội quân thị vệ mới cúi đầu chào Nguyễn Huệ rồi cùng quân sĩ lui ra, nhường bước cho phái quân Tây Sơn bước vào. Sau này, tâm sự với người vợ yêu quý của mình là Ngọc Hoa công chúa, khi nhắc đến những nhân vật Bắc Hà đáng được quý trọng, Nguyễn Huệ không quên viên quan chỉ huy đội cận vệ của cua Lê cùng việc làm, thái độ nghiêm khắc, đường hoàng đáng kính nể của ông trong buổi triều kiến vua Lê đầu tiên ấy. Sử chép, viên quan ấy là Phương Đình Pháp, người ở Quán La, ngay tại kinh thành. Trường hợp vua Quang Trung nhìn nhận và đánh giá Ngô Thì Nhậm cũng là một bài học lớn về sử dụng người tài. Ngô Thì Nhậm, một “danh sĩ Bắc Hà” đỗ tiến sĩ năm 1775, từng làm quan cho nhà Lê, nổi tiếng là một người đa tài được chúa Trịnh Sâm khen là “tài học bất bại nhân học” (tài học không dưới người khác). Năm 1782, Trịnh Khải lên ngôi chúa, Ngô Thì Nhậm mắc tội bị truy tố phải bỏ trốn về ở ẩn. Khi Nguyễn Huệ ra Thăng Long, biết Nguyễn Huệ không chỉ là một võ tướng tài ba, còn rất biết quý trọng người tài, Ngô Thì Nhậm đã mạnh dạn về Thăng Long xin được gặp Nguyễn Huệ. Đã nghe biết về Ngô Thì Nhậm từ trước, Nguyễn Huệ tỏ ý rất vui mừng: - Ngày trước vì chúa Trịnh không dùng, một mình bỏ nước mà đi. Nay ta không đến đây, ngươi làm sao được thấy bóng mặt trời? Có lẽ đó là ý trời muốn để dành người tài cho ta dùng. Vậy ngươi hãy cố gắng mà lo việc báo đáp thế là được. Thái độ chân tình, lời nói thẳng thắn của Nguyễn Huệ khiến Ngô Thì Nhậm rất cảm phục. Càng bất ngờ hơn, ngay sau đó Nguyễn Huệ phong ông làm chức Tả thị lang bộ Lại cùng Võ Văn Ước trông coi tất cả các quan lại văn võ của nhà Lê. Được tin dùng như vậy thật ngoài mong ước của Ngô Thì Nhậm. Mùa hè năm đó, trước khi rút quân về lại Phú Xuân, Nguyễn Huệ đã hội các tướng tá dặn rằng: - Sở và Lân là nanh vuốt của ta. Dụng và Ngôn là tâm phúc của ta. Tuyết là cháu của ta. Còn Nhậm thì vừa là bề tôi vừa là khách của ta, lại là dòng văn học Bắc Hà, thông thạo việc đời. Nay ta giao cho các ngươi cả 11 trấn trong toàn hạt, những việc quan trọng trong trấn đều cho tùy tiện mà làm. Mọi người cùng nhau họp bàn ổn thỏa, chớ vì kẻ cũ, người mới mà xa cách nhau. Ai nấy đều phải đồng lòng hiệp sức lo chung công việc để xứng đáng với sự trông nom của ta. Các ngươi hãy cố gắng nữa lên. Lời dặn hàm súc, thái độ rõ ràng thể hiện lòng tin cậy giao trách nhiệm lớn lao của Nguyễn Huệ mọi người đều yên lòng, ai cũng cố gắng hết sức mình. Cuối năm 1788, nghe tin quân Thanh với lực lượng áp đảo đã tràn vào nước ta, Nguyễn Huệ liền cấp tốc kéo quân ra Bắc lo chống giặc. Đại quân đến Tam Điệp thì Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân… ra đón và xin chịu tội. Nguyễn Huệ nghiêm nghị nói: - Các người đem thân thờ ta, đã làm đến chức tướng soái, ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên, lại cho tùy tiện làm việc. Vậy mà giặc đến không đánh nổi một trận… Binh pháp dạy rằng: Quân thua, chém tướng. Tội các người đều đáng chết một vạn lần. Song ta nghĩ các người đều là hạng võ dũng, không có tài cho nên ta đã để Ngô Thì Nhậm ở lại đây để làm việc với các người, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục, Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Các người đã biết tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu. Bên trong thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu. Mọi người đều thở phào, hết sức thán phục tài xét đoán như thần và tầm nhìn xa từ trước của Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ nói tiếp: - Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tính đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua 10 ngày có thể đuổi được giặc Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 lần nước mình, khi bị thua một trận ắt lấy làm hổ thẹn mà lo báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân. Nỡ nào làm như vậy! Đến lúc đó chỉ có người khéo lời mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Mọi việc xảy ra sau đó quả nhiên đúng như vậy. Nguyễn Huệ không chỉ là một thiên tài quân sự lớn trong lịch sử, ông còn là tấm gương sáng vô cùng quý báu về việc tin cậy và sử dụng nhân tài của đất nước cho lợi ích quốc gia, và trường hợp Ngô Thì Nhậm trên đây chỉ là một trong rất nhiều câu chuyện còn được truyền tụng cho đến ngày nay.

Nhà văn Nguyễn Gia Nùng