Giống nếp N98 được chọn tạo từ tổ hợp Yunshin//I.316/IR26 nhập nội từ IRRI năm 1987. Năm 1987 nhập nội, năm 1988-1999 chọn lọc cá thể, năm 2000-2007 thí nghiệm quan sát, đánh giá, năm 2005-2008 gửi khảo nghiệm Quốc gia, năm 2006-2008 mở rộng sản xuất. Giống N98 được công nhận giống chính thức tại quyết định số 509/QĐ-TT-CLT, ngày 11/11/2013

* NGUỒN GỐC XUẤT XỨ

Giống nếp N98 được chọn tạo từ tổ hợp Yunshin//I.316/IR26 nhập nội từ IRRI năm 1987. 

Năm 1987 nhập nội, năm 1988-1999 chọn lọc cá thể, năm 2000-2007 thí nghiệm quan sát, đánh giá, năm 2005-2008 gửi khảo nghiệm Quốc gia, năm 2006-2008 mở rộng sản xuất. 

Giống N98 được công nhận giống chính thức tại quyết định số 509/QĐ-TT-CLT, ngày 11/11/2013

* ĐẶC TÍNH NÔNG SINH HỌC

- Giống nếp N98 là giống lúa nếp có khả năng thích ứng rộng, có thời gian sinh trưởng vụ mùa 110 - 115 ngày, vụ xuân muộn: 130-135 ngày.

- Cây cao 105 – 110 cm, cứng cây, chống đổ, kháng bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá, đẻ nhánh khoẻ, bông dài, số hạt /bông 190 – 230 hạt /bông, trọng lượng 1000hạt : 23,5 – 24,5gram.

- Năng suất trung bình 6 tấn/ha, thâm canh tốt đạt 8 tấn/ha/vụ. So với giống lúa nếp Iri352, N98 cho năng suất cao hơn từ 10 đến 20%, cơm dẻo hơn.

- Giống nếp N98 có khả năng thích ứng rộng hơn, chống bệnh, chịu rét cao hơn, vượt năng suất giống nếp N97 trên các chân đất vàn thấp từ 5 đến 10 %.

- Năng suất trung bình 6 – 6.5 tấn/ha, thâm canh tốt dạt 8 tấn/ha. Chất lượng gạo khá, xôi dẻo, đậm, có thể sử dụng chế biến bột làm các loại bánh, làm bánh chưng, xôi, nấu rượu.

- N98 có thể cấy được cả hai vụ trên chân vàn, vàn cao ở các tỉnh miền núi phía bắc, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Trung bộ.

LƯU Ý KỸ THUẬT:

- Thời vụ:

+ Vụ xuân: gieo trà xuân muộn từ 20/1 đến 5/2. Cấy sau lập xuân, đối với mạ dược cần cấy kết thúc sớm tránh mạ già, mạ sân cấy tuổi mạ 12-15 ngày.

+ Vụ mùa: Bố trí trà mùa sớm gieo từ 1/6 đến 15/6, tuổi mạ dược 16-18 ngày.

- Cấy mật độ: 40-45 khóm/m2, mỗi khóm 2-3 dảnh.

- Phân bón: Lượng phân bón cho 1ha: (90 -120 g N + 90kg P2O5 + 120kg K2O + 8 tấn phân chuồng.

- Cách bón: Nên bón nặng đầu nhẹ cuối

+ Bón lót: ph ân chuồng + lân + 50% đạm + 30% kali trước khi bừa cấy

+ Bón thúc khi lúa bén rễ hồi xanh 50% đạm =30% kali, kết hợp làm cỏ sục bùn. Làm cỏ lần 2 sau lần 1 là 15 ngày, chú ý nhổ sạch cỏ dại, đặc biệt là cỏ lồng vực (cỏ kê)

+ Bón thúc đợt 2 khí lúa đứng cái làm đòng: 40% kali còn lại. Nên cấy ở các chân đất cao và vàn cao, ruộng chủ động tưới tiêu. Chế độ tưới nước như các giống ngắn ngày khác