Thị trường nấm gồm có các dạng nấm tươi, nấm đông lạnh, nấm hộp và nấm khô. Theo nghiên cứu của cơ quan Ìformanaliz, hàng năm thị trường Nga tiêu thụ khoảng 500 ngàn tấn nấm các loại. Mức tiêu thụ bình quân hơn 3 kg/người/năm, cao hơn so với các nước khác.

Thị trường nấm gồm có các dạng nấm tươi, nấm đông lạnh, nấm hộp và nấm khô. Theo nghiên cứu của cơ quan Ìformanaliz, hàng năm thị trường Nga tiêu thụ khoảng 500 ngàn tấn nấm các loại. Mức tiêu thụ bình quân hơn 3 kg/người/năm, cao hơn so với các nước khác.

Thị trường nấm gồm có các dạng nấm tươi, nấm đông lạnh, nấm hộp và nấm khô.Theo nghiên cứu của cơ quan Ìformanaliz, hàng năm thị trường Nga tiêu thụ khoảng 500 ngàn tấn nấm các loại. Mức tiêu thụ bình quân hơn 3 kg/người/năm, cao hơn so với các nước khác.

Thị trường nấm gồm có các dạng nấm tươi, nấm đông lạnh, nấm hộp và nấm khô.Theo nghiên cứu của cơ quan Ìformanaliz, hàng năm thị trường Nga tiêu thụ khoảng 500 ngàn tấn nấm các loại. Mức tiêu thụ bình quân hơn 3 kg/người/năm, cao hơn so với các nước khác. Tính trung bình theo đầu người hàng năm ở Pháp và Mỹ tiêu thụ chừng 2,5 kg, tại các nước EU- hơn 2 kg. Nấm cung cấp cho thị trường bao gồm nguồn nội địa và nhập khẩu.Nguồn nội địa do các cơ sở trồng, chế biến và người dân thu hái nấm tự nhiên trong rừng theo mùa vụ.

Sản xuất nấm của Nga chỉ đáp ứng một phần nhu cầu tiêu thụ của thị trường. Năm 2006, trong 110 cơ sở sx nấm, thu hoạch được 11 901 tấn. Năm 2007 so với năm 2006, tăng 19%, đạt 14 182 tấn tại 129 cơ sở sx. Một trong những nguyên nhân cơ sở sx tăng chậm là do thiếu nguyên liệu (phân trộn để giep cấy nấm-NV). Theo số liệu thống kê, nấm hương chiếm 68% tổng lượng nấm thu hoạch hàng năm. Trong đó 82% lượng nấm hương được gieo trồng và thu hoạch tại các cở sở sx nấm có quy mô lớn và trung bình. Nấm thu hái có thể bán ở dạng tươi, đông lạnh, đóng hộp họăc phơi khô. Các cơ sở sx nấm hộp có tiêng ở Nga, như công ty Ekoproduc, Ryazhsky.

Hiện nay, Nga NK hơn 140 ngàn tấn nấm mỗi năm. Lượng nấm NK năm sau tăng hơn năm trước. Cụ thể, năm 2007 tăng 9% so với năm 2006.

Sau đây là biểu số liệu các loại nấm NK năm 2006, 2007: (Đơn vị: tấn)

Loại nấm

2006

2007

Nấm tươi (kod TN VED 07095)

27 337

31 738

Nấm sơ chế (- 2003)

56 092

65 427

Nấm muối (- 2001)

31 008

28 250

Nấm đông lạnh (- 071080)

19 355

22 048

Nấm bảo quản thời hạn ngắn(- 071151)

1 850

829

Nấm khô (- 07123)

327

562

Tổng số

135 969

148 854

(Nguồn: Cơ quan Thống kê LB Nga)

Một trong những sản phẩm nấm NK vào Nga được nhắc đến là nấm đóng hộp. Xu hướng nấm đóng hộp được NK vào thị trường này ngày càng tăng về lượng và kim ngạch.

Sau đây là biểu số liệu NK nấm hộp vào Nga giai đoạn từ 2003 đến tháng 06/2008.

Năm

2002

2003

2004

2005

2006

2007

6 tháng08’

Trọng lượng (tấn)

27 877

31 327

40 915

58 374

54 413

67 601

39 977

Trị giá

(1000 USD)

9 663

11 059

14 138

22 985

28 923

51 477

40 674

(Nguồn: Cơ quan Thống kê LB Nga)

Nước XK sản phẩm nấm chủ yếu vào Nga là Trung Quốc, Ba Lan.
Năm 2007, TQ XK vào Nga 97 ngàn tấn s/p nấm, chủ yếu nấm hộp (gồm cả nấm hộp bảo quản thời hạn ngắn), nấm khô và nấm tươi với số lượng không nhiều. Đứng vị trí thứ hai XK nấm vào Nga là Ba Lan. Mỗi năm nước này XK vào Nga khoảng 44 ngàn tấn, trong đó nấm tươi chiếm tới 30 ngàn tấn.
Ở Nga, thị trường tiêu thụ s/p nấm tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, đặc biêt lượng mua nhiều ở Matxcơva và Sankt-Peterburg. Một số công ty có tiếng về kinh doanh s/p nấm trong hệ thống bán lẻ, như: “GK BIT”, “GRIBNAYA GILJDIYA”, “INKO”, “VIZITON”, “ROSTOK”, “DESAN”.
Nhìn chung, thị trường tiêu thụ nấm ở Nga còn nhiều tiềm năng. Ngành trồng và chế biến nấm đầu tư không nhiều, công bỏ ra ít nhưng đem lại lợi nhuận cao. Việt Nam có nhiều điều kiện thuân lợi để phát triển nuôi trồng và chế biến nấm. Đây là nguồn lợi lớn để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra ngoài nước, trong đó có thị trường Nga.

Nguồn mard.gov.vn